![QUÉT NHÀ, LAU TƯỜNG CŨNG CÓ THỂ THÀNH THẦN TIÊN? LÀM NHƯ VẬY PHÀM NHÂN CŨNG CÓ THỂ THÀNH TIÊN WeChat-Image_20220524161334-300x169](https://2img.net/h/daogiao.org.vn/wp-content/uploads/2022/05/WeChat-Image_20220524161334-300x169.jpg)
![QUÉT NHÀ, LAU TƯỜNG CŨNG CÓ THỂ THÀNH THẦN TIÊN? LÀM NHƯ VẬY PHÀM NHÂN CŨNG CÓ THỂ THÀNH TIÊN 640-4-300x169](https://2img.net/h/daogiao.org.vn/wp-content/uploads/2022/05/640-4-300x169.png)
![QUÉT NHÀ, LAU TƯỜNG CŨNG CÓ THỂ THÀNH THẦN TIÊN? LÀM NHƯ VẬY PHÀM NHÂN CŨNG CÓ THỂ THÀNH TIÊN WeChat-Image_20220524161345-300x170](https://2img.net/h/daogiao.org.vn/wp-content/uploads/2022/05/WeChat-Image_20220524161345-300x170.jpg)
![QUÉT NHÀ, LAU TƯỜNG CŨNG CÓ THỂ THÀNH THẦN TIÊN? LÀM NHƯ VẬY PHÀM NHÂN CŨNG CÓ THỂ THÀNH TIÊN 640-5-300x169](https://2img.net/h/daogiao.org.vn/wp-content/uploads/2022/05/640-5-300x169.png)
Thiên sư Khấu Khiêm đã từng nói: “Phàm là nhân sinh trên đời, trực ngộ xiêm tinh, mệnh làm người kém cỏi, đều do túc thế nghiệp thâm trọng, ...
Các hệ phái Lỗ Ban cho dù là chính tông hay là Lỗ ban Sát của Việt Nam thì đều có sự ảnh hưởng của Phật Giáo, các phái Tiên Gia khác như Mao Sơn, Côn Lôn, Thiên Sư, Long Hổ thì đều có cách tu luyện và câu chú thuần chất Tiên Đạo, ngay cả khi tác pháp của họ cũng vậy, lấy tha lực của Tiên Giới làm trợ giúp, còn Lỗ Ban thì có thêm bên Phật Giáo, như các Phù trị tà của Lỗ Ban Tiên Sư Trung Hoa thì có thêm các câu chú như Nam Mô A Di, hoặc vẽ tên của Phổ Am Đại Sư, thậm chí các bùa trấn yểm cũng có thêm các Mật Tự Phật Giáo, cách thức tu luyện Bùa của Lỗ Ban Việt Nam thì lại tương đôí giống Mật Tông, tuy nhiên Lỗ Ban có nguồn gốc Tiên Đạo nhưng lại ít chú trọng đến Thủ Ấn giống như các phái Tiên Gia khác.
| Cô Âm Bất Sinh |
Đầu tiên nói tới bát tự : Tứ trụ Giờ - Ngày - Tháng - Năm đề thuộc Âm .
Giống như Thuần Dương 4 trụ của thuần Âm đều là Âm rơi vào 2 chi Mão và Tỵ . Tức là Ngày Mão - Tháng Mão - Năm Mão và Ngày Tỵ - Tháng Tỵ - Năm Tỵ và trụ giờ đó là giờ Tý - Chính Tý ( 23h45 - 00h15 ) là lúc mặt trăng đứng bóng trên đỉnh đầu . trong Lục Thập Hoa Giáp ( 60 năm ) cũng có 10 ngày Thuần Âm . Thuần Âm phải là Nữ , nếu là Nam thì gọi là Giả Thuần Âm .
Nếu Thuần Dương rơi vào 2 chi Dần và Thìn thì Thuần Âm rơi vào 2 chi Mão và Tỵ . 2 chi này thuần Âm không trượt phát nào . Trong 10 ngày này trời âm u , có thể có mưa , sấm chớp , khí lạnh + sương mù dày hơn bình thường ( tuỳ khu vực có sương mù ) mang lại vẻ âm u tới rợn người nếu trùng vào ngày rằm thì ánh trăng sẽ xua bớt đi 1 phần nhưng có lẽ là chưa đủ vào chính Tý thì mèo và Rắn hoạt động mạnh do Âm Thịnh ( trừ mấy thứ mèo cảnh ) mèo thì săn chuột và rắn cũng ra khỏi hang hấp thụ âm và săn mồi .
Theo thứ tự 12 con giáp ta có Dần - Mão - Thìn - Tỵ . Âm dương đan xen lẫn nhau , có Dương ắt sẽ có Âm và đó là điều tất yếu để duy trì thế cân bằng trong Âm Dương . Dương nghịch Âm hay Âm nghịch Dương điều này là hiển nhiên , 2 mệnh này cũng vậy .
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về cặp mệnh buộc phải học Đạo đó là Thuần Âm và Thuần Dương . Thuần Dương đã có ở bài trước anh em nào quên có thể tìm và đọc lại . Bài này là luận về Thuần Âm ( Chí Âm )
Đầu tiên bàn tới tính cách , khả năng của Chí Âm .
Nhu nhược là cái đầu tiên phải nhắc tới , đa sầu đa cảm ( nhạy cảm ) là thứ 2 , nhiều chuyện ( nói giảm =))) ) là cái thứ 3 . Đây là 3 cột tính cách vững như bàn thạch của Thuần Âm và cũng không thể thay đổi cho tới cuối đời . Thuần Âm hướng nội, nên thường tiêu cực hóa mọi vấn đề, là người bi quan, luôn nghĩ về bóng tối, thiên về nữ tính vì tính cách quá âm nhược, trái ngược hoàn toàn với thuần Dương . ( bảo sao Dương nó ghét cũng đúng thôi =)))))) ) .
Ngoài những khả năng đó ra thuần Âm cũng có nét nổi trội về trí tuệ + lục quan + trực giác chẳng thua gì thuần Dương và cũng tự khai mở theo các mức tuổi nhất định là 3,6,9,12,24,27,30,33,36 ,48,51,54 nhưng khác chỗ là cả cuộc đời của Thuần Âm là sóng gió nên cứ tới đúng lúc tự khai chứ không cần trải qua biến cố đau khổ hoặc tử mệnh lúc gần khai như Thuần Dương . Nhưng sự thông minh này có phần lươn lẹo , nham hiểm , độc ác và khó đoán .
Sinh ra để khắc Dương , vạn vật đều chịu ảnh hưởng từ âm dương , với sự thuần tuý Âm , khí lực luôn dồi dào mạnh mẽ nên khắc Dương cũng là điều hiển nhiên . Là 1 mệnh đặc biệt để tu đạo , để phát triển thêm nhiều tiềm năng trong Âm để chế Dương ( Dương để khắc Âm nhưng Âm để chế Dương ) , nhất là liên quan tới tróc quỷ , trừ tà , trận pháp ,....
Chính vì thuần Âm nên hay gặp các vấn đề liên quan tới tâm linh , có thể nhìn thấy năng lượng âm , dễ bị tác động bởi linh giới tuy nhiên điều này cũng giúp cho bản năng thiên bẩm về lục quan và trực giác của thuần Âm được nâng lên , nên nói có duyên với Đạo Thuật quả không sai mà .
Học mọi thứ nhanh , sáng tạo ra nhiều thuật mới nhanh hơn thuần Dương , vận dụng nguyên lý cơ bản tốt hơn ( vì Dương thích nhanh nên hay bỏ qua tiểu tiết nhưng quan trọng , ví dụ như là nguyên lý cơ bản ) bởi sự tỉ mỉ vốn có .
Thuần Âm rất ít khi lộ ra sự bất đồng ý kiến với mọi người . Luôn luôn giữ sự nhận xét cho chính mình. Và hay hơn nữa là hoạch định kế hoạch và đi đến mục đích mà không làm tổn thương ai. Thuần Âm giữ mình trong mộtthế giới riêng của họ .
Khác với sự khó gần của Thuần Dương thì Thuần Âm lại rất dễ gần với mọi người ấy nhưng Thuần Âm vẫn chọn cuộc sống cô độc . ( Dễ hiểu thôi , nói nhiều quá ai rảnh tiếp chuyện , với trong đầu toàn điều tiêu cực , cực đoan ai độ nổi =))))) ) .
Về cơ thể của Chí Âm
Khí Âm bao quanh cơ thể nên luôn khiến người khác có cảm giác gai người khi tiếp xúc hoặc ở gần khi đêm muộn bởi sự lạnh lẽo của âm khí . Chân tay , da thịt gần như lạnh khi về đêm ở mọi mùa, khả năng chịu nóng tốt hơn chịu lạnh . Dễ bị các bệnh về Âm Phong , Thuỷ Độc .
Xương khớp của Chí Âm phát triển bình thường như mọi người nhưng lại vô cùng dẻo dai và linh hoạt . Khả năng phản xạ tự nhiên tốt hơn Dương . Rất dễ cho học võ công không sử dụng vũ khí nặng .
Nhược điểm của Chí Âm .
Sinh ra để khắc Dương . Bản mệnh thuần tuý Âm nên chuyện khắc Dương ( những sinh linh đang có sự sống gồm có con người , động vật , thực vật ) thậm chí là khắc tử . Âm quá thịnh cũng là nhược điểm nên gia tiên tiền tổ , vong linh bình thường , yếu không đủ lực để cản lại mà tiến lại gần chỉ có thể đứng từ xa giao tiếp với những năng lượng âm thấp hơn , vì khi ở gần có thể sẽ bị Thuần Âm nuốt , hấp thụ .
Từ những điều trên chúng ta cũng đã nhìn thấy phần nào nhược điểm về cuộc sống , hôn nhân , quan hệ ,.... của thuần Âm . Dương có nhược điểm chí mạng là Tử mệnh đột ngột , còn Âm cả đời là sóng gió triền miên . Thuần Dương thì thích xông pha nguy hiểm , còn Thuần Âm ngồi yên thì nguy hiểm vẫn cứ tìm tới .
| Cô Âm Bất Sinh |
Có nghĩa là 1 mình âm thì không thể sinh sản và phát triển tiếp .
Bản thân chỉ có Âm dẫn tới sự mất cân bằng âm dương . Cái gì quá cũng không tốt . Âm Dương luôn tồn tại song song với mối quan hệ không thể thiếu cho sự phát triển vạn vật .
Vậy nên để cân bằng âm dương người mệnh này thiên phú thuộc về người của Đạo gia . Và đã có rất nhiều cao nhân dị sĩ của đạo gia mang mệnh này được ghi vào cổ thư của Đạo gia .
Trên đây là 1 phần được ghi trong Cổ thư , tất nhiên đã được lược bỏ những phần được ghi lại như : Thiên Mệnh , Sứ Mệnh , Nhiệm Vụ , Các cấm thuật , dị thuật + trận pháp dành riêng , .... tôi xin dừng bút tại đây do các mục không được nhắc đến nằm trong bí mật nên không thể tiết lộ sâu được .
野道人 !
Các vị bồ tát là những bậc giác ngộ do tin trì học và thực tiễn chánh pháp của chư Phật giúp cứu độ cho chúng sanh khắp nơi khỏi cái khổ, và trong các vị bồ tát mà ta thường gặp thì Quán Thế Âm Bồ Tát là vị có lẽ là ai ai cũng đều biết tới. Ngài được biết tới là vị Đại Bồ Tát theo hầu bên cạnh đức Phật A Di Đà ở Cực Lạc Thế Giới, cùng với Đại Thế Chí được tôn xưng làm Tây Phương Tam Thánh và được thờ phụng ở các chùa chiền tu theo Tịnh Độ Tông ở khắp Việt Nam. Quán Thế Âm trong dân gian thường được thể hiện qua hình tướng thân nữ hiền từ, mặc áo bào trắng, một tay cầm cành dương liễu, một tay bưng bình nước cam lồ để cứu độ chúng sanh, vì thế nên trong dân gian thương tôn xưng ngài làm Phật Mẫu để tạo nên sự gần gũi hơn. Cái này cũng cần phải nói đến là do sự phổ biến quan niệm về hình ảnh mẹ hiền của người Việt ta, nên sử dụng hình ảnh Quán Âm thân nữ như vừa miêu tả sẽ dễ tiếp cận và giáo hoá người cầu tín rất nhiều.
Nguyên Quán Âm Bồ Tát vốn là Bồ Tát ở Thập Địa Viên Mãn, vượt qua khỏi ràng buộc của nhị nguyên, không còn phân chia giới tánh nam nữ nữa, mà thân ngài được tạo thành từ vô số pháp của vũ trụ; nhưng do Quán Âm hay dùng ‘Phổ Môn Thị Hiện’ – tức là pháp biến hoá ra đủ loại hình tướng, hoá thân tuỳ theo nhu cầu cứu độ ở các trường hợp khác nhau, thế nên có lúc ngài hiện thân nữ, lúc thì hiện thân nam, lúc thì hiện thân phi nhân như rồng, rắn, hay hiện các thân thuộc súc sanh, lúc hiện thân quỷ vương ma tướng đếm chẳng thể hết được. Vì sao lại hiện thân như vậy? Vì tuỳ vào độ hiểu biết và thế giới quan của từng chúng sanh, chủng tộc, thế giới khác nhau sẽ có sự ‘chấp’ vào các hình tướng khác nhau, nên hoá hiện hình tướng phù hợp sẽ có lợi cho việc dạy bảo vậy. Về các kiếp trước của Quán Âm thì các bạn có thể tìm đọc trên các trang mạng điện tử. Có một điều thú vị mà phần lớn nhiều người hiện nay không hề biết về xuất thân của Quán Âm ở kiếp hiện tại của ngài, ở đây ad sẽ tóm lược lại đôi chút. Quán Âm ở kiếp hiện tại của ngài vốn xuất thân từ Đông Độ ở Ta Bà thế giới của chúng ta, có danh hiệu là Từ Hàng Đạo Nhân, và là vị đệ tử thứ 9 trong 13 đệ tử thân truyền của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn – một trong ba vị Đạo Tổ của Tiên giới. Từ Hàng Đạo Nhân ở Tiên giới đứng hàng 12 Kim Tiên, ngụ tại động Lạc Già, núi Phổ Đà, có pháp bảo là Thanh Tịnh Lưu Ly Bình. Sau trận Tru Tiên, Từ Hàng Đạo Nhân xin phép Thái Thượng Thiên Tôn được quy y Phật Môn, và theo hai vị giáo chủ của Tây Phương Giáo là A Di Đà (Tiếp Dẫn) và Chuẩn Đề về Cực Lạc Tịnh Thổ nghe giảng đạo, và cũng từ đó trở thành một trong hai vị Bồ Tát đứng đầu ở nơi đó. Chính vì có nguyên do như vậy, mà đức Phật Thích Ca mới từng nói rằng Quán Thế Âm bồ tát có nhân duyên rất lớn ở Ta Bà, thường hay hiện hữu ở Ta Bà mà cứu khổ cho chúng sanh. Các bạn có thể đọc đọc Phong Thần Bảng để hiểu hơn về danh xưng Từ Hàng này, tuy nhiên nên lưu ý rằng Phong Thần Diễn Nghĩa chỉ đúng 60% so với thực tế, có rất nhiều chi tiết được hư cấu hoặc chuyển đổi, nên cũng đừng tin quá. Còn tư liệu trên mà ad vừa trích dẫn là lịch sử được lưu lại ở Ngọc Hư Cung, chứ không có liên quan tới Phong Thần Bảng.
Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhiều danh hiệu khác lắm, ad xin liệt kê ra một số như sau: Thánh Quán Âm, Đại Bi Thánh Giả, Liên Hoa Thủ Bồ Tát, Bất Nhị Bồ Tát, Bát Nhã Bồ Tát, Thí Vô Uý Giả, Quán Tự Tại Bồ Tát, Thiên Thủ Quán Âm, Mã Đầu Quán Âm, Như Ý Luân Quán Âm, vân vân. Để liệt kê toàn bộ các ứng hoá thân, tên gọi thì chẳng sao kể xiết vậy.
Câu chú Om Mani Padme Hum với cái tên quen thuộc như Lục Tự Đại Minh Thần Chú, Án ma ni bát di hồng, Án Ma ni bát minh hồng,.. là câu chú phổ biến nhất của Quán Thế Âm Bồ Tát, đặc biệt là gắn liền với hình tướng Quán Âm Tứ Tý trong Mật Tông Tây Tạng. Câu thần chú này được truyền bá rất rộng rãi trong nhân gian nhưng người ta mới chỉ biết tới như một câu chú chuyên trừ tà ma, giải nạn chướng, trị liệu bệnh tật mà không hề biết tới tính chất vi diệu rất bí mật của Lục Tự Đại Minh Chân ngôn. Ad Tiêu sẽ dùng góc độ nhìn từ Mật Tông để giải thích cho các bạn hiểu hơn về sự thần kỳ của chú này. Về ý nghĩa của thần chú, các bạn có thể tìm đọc trên internet.
Trong truyền thống huyền thuật từ xưa tới nay, âm thanh có tầm quan trọng không thể bàn cãi trong việc thực hiện các nghi lễ, thuật pháp, là dạng động của một thần chú. Tất cả các thần chú mặt chữ đều có âm vận (chỉ cách phát âm) kèm theo, những âm vận này tương ứng với một sức mạnh tâm linh nhất định nào đó, việc phát âm ra những âm vận này có thể kích hoạt được những lợi ích liên quan tới y học, khí công và tâm linh, khiến cho cơ thể chúng ta sẽ mở được những công năng tiềm ẩn bởi việc âm thanh được tạo nên từ sự rung động và tạo ra tần sóng nhất định của việc chuyển động các bộ phận trên cơ thể.
Hoàng Đế Nội Kinh là tác phẩm kinh điển của Trung y cổ đại, trong đó ghi chép một câu như thế này: “Tức giận làm tổn thương gan, vui mừng làm tổn thương tim, lo lắng suy nghĩ làm tổn thương lá lách, buồn bực làm tổn thương phổi, sợ hãi làm tổn thương thận”. Năm cơ quan nội tạng của con người chỉ có thể hoạt động bình thường khi tâm trí họ được bình yên và tĩnh lặng, tâm thái tích cực và ổn định. Căn cứ vào nguyên lý này, cổ nhân đã phát minh ra phương pháp chữa bệnh bằng ngũ âm, nghe âm thanh thuần túy ngay chính, phù hợp với tiêu chuẩn âm luật để xoa dịu cảm xúc, từ đó phục hồi lại chức năng của ngũ tạng.
Trong Hoàng Đế Nội Kinh còn viết: “Trên trời có ngũ âm, tương ứng với con người có ngũ tạng. Trên trời có sáu âm luật, tương ứng với con người có lục phủ”. Chính là nói, vũ trụ vạn vật là do ngũ hành cấu thành, đặc tính của ngũ hành “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” cũng được phản ánh trong cơ thể, phản ánh qua tinh thần, tình cảm, vị giác và thính giác của con người. Vì vậy, ngũ âm mà chúng ta biết bao gồm năm loại “Cung, Thương, Giác, Vi, Vũ” là tương ứng với năm nốt nhạc “Đồ, Rê, Mi, Son, La”, ứng với năm cơ quan nội tạng của cơ thể là “tim, gan, lá lách, phổi, thận”, và năm cảm xúc của con người là “vui, giận, lo lắng, buồn bã, sợ hãi”. Hết thảy đều có đặc điểm của ngũ hành và có mối liên hệ với nhau. Cũng tương tự như vậy trong cách phân tích, cách phát âm thần chú trong Phật giáo đều có liên hệ mật thiết tới thay đổi sức khoẻ thể chất và tinh thần của con người.
Xét theo phương diện đông y, mỗi chữ trong Lục Tự Đại Minh Chú đều có sự liên hệ mật thiết tới hệ thống kinh mạch và lục phủ ngũ tạng trong cơ thể như sau:
OM: âm thanh của trí tuệ và hạnh phúc, khi chúng ta phát ra âm này thì sẽ bắt đầu từ huyệt khí hải, theo nhâm mạch lên đến cổ họng, môi hơi khép lại, vòm miệng cong lên tạo thành một khoảng trống, hơi phát ra từ cả miệng và hai mũi. Khi phát âm này chúng ta có thể để ý thấy rằng có một sự rung động rõ ràng ở đầu, đôi khi có cảm giác như là tiếng vo vo của bầy ong, khi phát âm này xong thì đột nhiên thấy hai tai có chút thông thoáng, nghe được rõ hơn, đó là bởi sóng âm của âm này tạo ra kích hoạt được 7 khiếu ở mặt, làm cho các lỗ được thông thoáng hơn rất nhiều. Thường tập âm này thì mắt sẽ sáng dần, thở không bị tắc, tại nghe rõ hơn, trở nên thông minh hơn. Ý nghĩa tâm linh của âm này là đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào Thiên Giới trong lục đạo luân hồi, nếu dịch trong thần chú thì có nghĩa là “Quy Mệnh”.
MA: âm này khi phát âm thì cầm mím môi và mở miệng ra để thành âm. Âm này khiến cho cổ họng rung, huyệt thiên đột được sóng âm kích hoạt mà rung theo, nếu phát âm dài và lâu thì sẽ thấy sóng âm được lan truyền ra hai cánh tay mà cảm thấy tê nhẹ. Âm này có thể trị chứng viêm họng, đau nhức ở hai vai. Âm này trong tâm linh đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào A Tu La Giới.
NI: âm này là âm được phát ra tại tâm tức nơi huyệt cửu vĩ, khi phát âm này dài thì sẽ thấy hai vai cong dần, ở giữa ngực có hơi rút lại và lồng ngực có rung động. Âm này nếu tập luyện đúng có thể trị chứng tim đập loạn, chứng huyết áp, bệnh phổi, làm tăng tiến trí tuệ. Âm này trong tâm linh đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào Nhân Giới.
PAD: âm này trước ngậm miệng, sau bật hơi mở miệng ra mà thành, sóng âm này trước rung ở đan điền, sau tới mệnh môn, phát âm xong sẽ thấy lưng và xương sống có cảm giác ấm nhè nhẹ. Âm này nếu tập đúng sẽ giúp trị các chứng bệnh về xương sống, thận. Âm này trong tâm linh đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào Súc Sanh Đạo.
ME: âm này phát âm khá nhỏ, âm ở dưới lưỡi, miệng mở nhỏ, rung động âm thanh đi xuống dưới cơ thể và rung ở xung quanh đới mạch. Âm này nếu tập đúng sẽ giúp trị các chứng bệnh về gan, ruột, các bệnh về bụng như tiêu chảy. Âm này trong tâm linh đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào Ngạ Quỷ Giới.
HUM: âm này phát âm theo kiểu đóng dần miệng và cho âm rung động ở trong thanh quản. Âm này là âm của thận, là căn nguyên của khí trong cơ thể, bắt đầu từ huyệt dũng tuyền, qua gan, vào phổi, phát ra miệng và lại làm rung nhẹ hai tai. Âm này có nhiều tác dụng như khiến cho thần trí thanh tỉnh, trị các chứng đau chân đùi, xương khớp, các chứng liên quan tới bài tiết. Âm này trong tâm linh đại diện cho việc đóng cửa tái sanh vào Địa Ngục.
Lưu ý: các bạn không nên tự tập mà không có sự chỉ dẫn từ người có kinh nghiệm.
Việc phối hợp sóng âm như vậy sẽ khiến cho khí trong cơ thể được lưu động theo một quy trình nhất định, kết hợp với việc kết thủ ấn ở tay để nối các đường huyệt đạo và kinh mạch với nhau, và quán tưởng theo màu sắc, bổn tôn hay pháp nào đó sẽ khiến cho cơ thể được thanh lọc và khai mở. Việc kết hợp 3 cái như vậy được gọi là Tam Mật bao gồm: Thân Mật (kết ấn), Khẩu Mật (phát âm thần chú) và Ý Mật (quán tưởng). Khi thực hành pháp Tam Mật của Quán Thế Âm cùng với thần chú Om Mani Padme Hum, người tu hành sẽ có được những khả năng như trở nên thông minh hơn, ăn nói lưu loát dễ nghe, thực hiện được các phép thuật nhất định, và đặc biệt là giúp cho việc tái sanh về Cực Lạc Thế Giới. Đó chính là lý do vì sao mỗi âm lại tương ứng với việc đóng một cửa ở lục đạo. Nhưng 6 chữ của thần chú này chỉ giúp cho chúng ta đóng cửa vào luân hồi lục đạo, nếu một người trì chú này nhưng không biết thực hành đúng cách thì phần lớn sẽ nhận phước báo để sanh về cõi trời, điểm mấu chốt để tái sanh vào Cực Lạc là nằm ở chữ thứ 7 – HRIH. HRIH là chủng tử của A Di Đà Như Lai, khi kết hợp với Lục Tự Đại Minh thì mới chính thức mở ra công năng để vãng sanh ở Cực Lạc. Về việc kết hợp thực hành ra sao thì các bạn cần được đạo sư Mật Tông điểm đạo và hướng dẫn trực tiếp, ad Tiêu sẽ không để đây, mong các bạn đừng tự dại dột thiếu suy nghĩ mà thực hành tùm lum, kẻo gây nghiệp. Hoàng Cơ Giáo có nhiều pháp liên quan tới Thánh Quán Âm, trong đó điển hình là Lục Tự Thánh Kinh, pháp này dựa vào bổn tôn Quán Âm Tứ Tý và Lục Tự Đại Minh mà tu luyện, là một trong những pháp để luyện thành Ngọc Mani Bảo Châu mà trong kinh Phật hay nhắc tới, giúp đệ tử tu luyện được kéo dài tuổi thọ, tăng cường pháp lực để cứu độ chúng sanh. Và đặc biệt đệ tử nào tu được pháp này thành tựu sẽ có thể sử dụng các pháp cứu độ của chư Tara thần nữ, diệu kỳ lắm vậy.
Sử dụng Lục Tự Đại Minh trong Tiên Gia thì lại có thể thâu Tam Tài, chuyển Thất Tinh, dụng Thiên Can Địa Chi mà lập được ra 336 trận pháp tróc quỷ sai thần, trị kẻ ác, luyện binh, lập ngục mà hành sự theo ý tu sĩ. Chưa kể thần chú này còn là câu chú kích hoạt cho biết bao nhiêu loại bùa và võ bùa, các pháp hộ ma, kính ái, vân vân. Từ đó mới thấy rằng thần thông của Quan Âm Đại Sĩ trải dài suốt từ Đông sang Tây vậy.
Nay viết đến vậy thôi, ad có hướng dẫn cách hành trì Quán Thế Âm cho các bạn tu tại gia trong group của trang, mời các bạn tham gia. Chúc mọi người an lành.
Tiêu Diêu Tử
Xin chào các đạo hữu
Và các thành viên theo học hỏi
Đây là bùa bên hồi giáo, có thể gọi là người chăm hay người chà và
Dưới đây là phép thư yếm cho bụng bự dẫn đến cái chết nếu không kịp thời cứu chữa
Cách sử dụng dùng 1 ống tre già, 1 miếng da trâu, 1 tấm hình 4x6, 3 cây đinh, vv ...
Cắt phần trên ống tre làm cái nắp
Lấy phép này độc kinh 3 đêm từ 00h đến 4h sáng làm 3 đêm như vậy
Trước khi làm lễ phải tắm rửa vệ sinh sạch sẽ mặc y phục chỉnh tề
Ngồi lên chiếc thảm hoa bên đạo hồi (thảm giôbgs của A-la- đanh)
Mặt nhìn về hướng Tây, vị trí đặt lễ hành pháp cũng về hướng Tây
Sau đó đặt các đồ lễ cùng với nhang đèn để chuẩn bị tác pháp.
Các vật lễ vật gồm có
5 loại trái cây mỗi thứ 5 trái
+ 1 nải chuối xiêm sống
1 cặp đèn cày trắng
1 gói thuốc lá
1 gói trà
1 hộp nhang thơm thái
1 vỉ hột gà
Bắt đầu vào việc khi làm k đc nhìn qua lại cho dù có bất kì động tĩnh gì, không gian làm việc nên yên tĩnh thì tôt hơn, nếu có ai gọi mình hay làm gì đều k quan tâm đến, đừng để mất tập trung
Làm phải có 1 phòng riêng tư k ai làm phiền
Mắt tập trung vào cây đèn cày nhìn vào ngọn lửa 5p k đc chớp mắt sau đó tập trung đọc câu kinh chú (xin phép k chia sẻ câu chú), muốn làm thư ếm gì đó theo tâm nguyện của mình có thể làm cảnh cáo hoặc làm nặng hơn vv
1 đêm đọc 100 lần hoặc 300 lần tuỳ theo năng lực
Nếu làm cảnh cáo đọc 100 thôi, nặng hơn thì đọc 300 lần
Sau 3 đêm là xong, đêm hôm sau canh đúng 00h ra nghĩa trang nếu tìm đc mộ mới chôn chưa xây tường đào khoảng giữa ngôi mộ đặt ống tre vào để đứng còn hình người muốn làm để chung với phép. Lấy hình đọc câu chú 3 lần nguyền rủa người đó xong kèm theo phép để chung vào mặt phép úp vào mặt hình lấy 1 miếng da trâu cuộn lại nhét chung với nhau vào ống tre, chúng ta có thể thêm bất cứ vật gì có thể nhét thêm vào vd như miếng sành, chai, dao, lưỡi lam, Đinh sắt,tóc, kẽm vv lấy nắp đậy lại đóng 3 cây đinh giữ vị trí k cho đồ rơi ra ngoài
Nếu như tìm k đc ngôi mộ mới thì vào khu rừng hoặc khu vực cây cối nhiều có âm khí khá nhiều nặng nề đều làm đc hết cách dùng như phần mô tả lúc nãy.
Để giải về phép thư dạng này, tôi sẽ chia sẻ ở bài sau. Cám ơn các bạn đã quan tâm theo dõi
Duyên nợ là một thứ gì đó trong cuộc sống khó có thể giải thích cũng như từ chối. Trong sự tái sinh luân hồi, duyên nợ sẽ tồn tại từ đời trước đến đời sau.
Phàm phu yêu thương một người nào đều gắn liền với một nguyên nhân, có người yêu thương vì họ là thân bằng quyến thuộc, có tình yêu thương dành cho người chồng, người con, lại có lòng thương hại trước một cảnh đời bất hạnh, và tất nhiên là nó không thể ngang đồng với nhau trong những thứ ấy, có thứ ít, có thứ nhiều, ngay cả con cái chúng ta sanh ra thì vẫn có thương nhiều hay ít với mỗi đứa. Vì có sự phân biệt, có lòng so sánh với cái bản ngã chính mình cho nên đó là chấp ngã.
Trong tất cả các dục niệm thì 'ái dục' là sợi dây vô hình ngoằn ngoèo, dai dẳng nhất mà con người khó đoạn diệt được, bởi vì cái ngã chấp này mà con người mãi lận đận tới lui, xuôi ngược trong sanh tử luân hồi. Trong cái mê cung của trăm ngàn thứ tình cảm chấp ngã ấy thì Tình Yêu lại là mấu chốt dẫn dắt tất cả trong lẩn quẩn, rối rắm không dễ đoạn trừ một sớm một chiều cho được.
Tình yêu nam nữ là sợi dây trói buộc nhau, đau khổ, chấp chước, ích kỷ, và vô cùng hỷ, nộ, ái ố, vui, buồn bất chợt, dễ làm con người ta mê đắm mà lạc lối lúc nào chẳng hay.
Trong trăm ngàn kiếp luân hồi, mỗi kiếp ta có một hay một vài tình nhân, có người thì chỉ có một người vợ/chồng thôi, có người lại lận đận qua vài lần đò, thì số người từng là chồng là vợ của ta cũng là chẳng thể tính đếm cho nổi rồi. Nhưng do đã trải qua nhiều bận luân hồi xóa đi ký ức ta chẳng còn nhớ đến nữa, khi hữu duyên tình cờ gặp lại trong kiếp này dù chỉ gặp thoáng qua thôi nhưng lòng ta nôn nao khó tả, ai cũng nghĩ như quen biết nhau tự bao giờ rồi. Đúng là đã quen biết chứ còn gì nữa? Tuy kiếp này ta mới tao ngộ một lần thôi nhưng mà các kiếp trước đã có nhiều tháng năm dài từng thương nhau sao mà không quen, không nhớ cho được. Vì vậy nếu như trong kiếp này ta có một duyên mới phát sinh với một người yêu mới, nếu không có sự so sánh nào rất có thể ta sẽ nên duyên với họ nhưng đột nhiên một người lạ xuất hiện, làm cho ta mất thăng bằng, và rồi rất nhiều mối tình phải vỡ tan vì lẽ này, lại nên duyên tơ tóc với người mới ấy. Đó là cái nợ...Nợ gì? Nợ ân tình từ nhiều kiếp trước giờ ùa về trong ta. Đây là lý do vì sao người ta vẫn nói "Có duyên không nợ" hay "có nợ không duyên" là vậy. Làm vợ chồng nếu thiếu 1 trong 2 thì khó mà bền chặt lâu dài đến cuối cùng.
Cuộc sống hiện tại ta gặp không ít những cặp vợ chồng khi đến với nhau là bởi tình yêu, thế nhưng sau một thời gian chung sống họ lại chia tay nhau, không giữ được lời thề hẹn ước bên nhau đến đầu bạc răng long. Bởi duyên của họ chỉ có thể thôi, họ đã trả hết nợ cho nhau từ kiếp trước và đã đến lúc phải rời đi…
Tuy nhiên, không phải hễ có duyên tiền kiếp với nhau thì sẽ có cảm tình, luyến ái. Bởi nếu đã trải qua lục kiếp thục duyên (tức 6 kiếp luân hồi) mà không tao ngộ lại thì xem như đoạn diệt tiền duyên ấy.
Chúng ta vẫn thường hay nghe nói về chuyện kết tóc se tơ của ông tơ bà nguyệt, rằng: Nam nữ trong nhân gian, chỉ cần một sợi chỉ hồng của “ông Tơ bà Nguyệt” thắt vào chân thì cho dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ địa vị cao thấp cũng sẽ đúng thời gian mà gặp nhau, kết duyên làm vợ chồng, cùng dắt tay nhau đi qua quãng đời còn lại.
Hôm nay, Thầy chia sẻ 1 bí thuật nhỏ trong Hồi Kiếp Ấn của 1 vị thánh tăng xưa để xác định được duyên tình thế tục của chúng ta liệu là tiền duyên hay ở hiện kiếp.
* Cách làm như sau: nam dùng 9 sợi tóc bện lại thành một, nữ dùng 7 sợi bện lại thành một, sau đó nếu là nam thì chọn giờ thìn trong ngày bỏ vào, nếu là nữ thì chọn giờ tỵ mà bỏ vào cốc, khi bỏ cùng lúc vào, đậy kín cốc lại rồi bỏ ở nơi thiếu sáng, sau 7 ngày mở ra xem, nếu các bện tóc quấn lấy nhau nhiều vòng thì họ đã từng có duyên trong tiền kiếp, nếu chỉ là chạm nhau hoặc nằm hờ lên nhau thì đó mới chỉ là nhân duyên chớm nở ở kiếp hiện tại này thôi. Tiểu thuật này cũng cho thấy rằng: chuyện kết tóc se duyên của ông Tơ bà Nguyệt là hoàn toàn có thật.
Hi vọng chút thuật nhỏ sẽ hữu ích cho người cần nó. Cám ơn các bạn đã quan tâm bài viết. Chúc các bạn một ngày vui vẻ
Master. Huang Guohui
In recent times, fraudsters and high-tech criminals have performed tricks to impersonate customer care staff of carriers, banks, and e-wallets to assist in solving problems for customers. . During the exchange, the bad guy asks the customer to text with the syntax **21*#. In fact, **21*# is a call forwarding syntax - a service of network operators such as Mobifone, Vinaphone, and Vietnamobile that allows mobile subscribers to redirect calls to an on-network phone number or net. Next, the subjects will log in to the electronic wallet applications (MoMo, Zalo Pay, Viettel Pay, ...) of the victim remotely. E-wallet switchboards will call to provide OTP code, but this call is redirected to the subject's phone number. From there, the bad guy appropriated the money in the wallet, the bank account associated with the wallet.
© Copyright 2016 by Thien Uy. All rights reserved.
® ® Center for Applied Research Feng Shui Thien Uy holds the copyright to the content of this website.
Email: masterthienuy@gmail.com; huangguohui@thienuygroup.com
Responsible for content: Lawer.Hoàng Quốc Huy- Chairman of the Scientific Council of Thien Uyen Feng Shui Center
Disciple of Taos
Saigon Center Building , 65 Le Loi Street, Ben Nghe Ward, District 1, Ho Chi Minh City